Phát triển ngôn ngữ theo quan điểm của Montessori

22-10-2020 | Thư viện mầm non

    Phát triển ngôn ngữ là một phương diện quan trọng trong sự phát triển nhân cách trẻ thơ trong 6 năm đầu đời. Ngôn ngữ góp một phần quyết định để trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên trong xã hội loài người. Vì thế mà có nhiều nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian và công sức để quan sát và tìm kiếm cách thức hỗ trợ cho sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi này. Trong số đó có tiến sĩ Maria Montessori. Điều đặc biệt là Maria không chỉ phát biểu quan điểm của mình trên phương diện lý thuyết mà quan trọng hơn bà và cộng sự của đã xây dựng và phát triển  bài học, giáo cụ trực quan hệ thống, bài bản, khoa học giúp trẻ tận dụng được khoảng thời gian vàng để phát triển ngôn ngữ nói chung và đọc viết nói riêng. Hiểu thấu đáo quan điểm của Maria Montessori sẽ giúp chúng ta có những sự vận dụng phù hợp trong bối cảnh phát triển ngôn ngữ tiếng Việt ở lứa tuổi mầm non.

Ngôn ngữ và trí tuệ thẩm thấu

Tiến sĩ Montessori quan sát thấy rằng tâm trí của trẻ em như một miếng bọt biển. Nhưng không giống như một miếng bọt biển bị khô kiệt dần bởi thời gian, trái lại tâm trí của trẻ luôn thấm hút những gì trẻ được tiếp xúc. Vì thế mà bà gọi đó là “trí tuệ thẩm thấu” hay “sức thẩm thấu của tâm hồn.” Trí tuệ thẩm thấu của trẻ hấp thụ mọi điều từ  môi trường mà không hề lựa chọn. Trong 6 năm đầu đời, tâm trí trẻ hấp thụ một cách vô thức tất cả những điều cụ thể trong một giai đoạn cụ thể. Giai đoạn này được Maria Montessori gọi là giai đoạn nhạy cảm (“senstitive periods”). Tuy vậy trí tuệ thẩm thấu cũng có những giới hạn do đó, bà xác định rằng giáo dục có một vài trò quan trọng trong việc tổ chức lại môi trường sao cho hữu ích với từng giai đoạn phát triển của trẻ.

          Tiến sĩ Montessori khẳng định: “Trí tuệ thẩm thấu là một món quà tuyệt diệu dành cho nhân loại” (Montessori, 1997). Trong quá trình quan sát sự phát triển của một đứa trẻ, bà nhận ra rằng đứa trẻ hấp thụ toàn bộ môi trường mà không cần chút nỗ lực nào và hoàn toàn vô thức.Tâm trí của đứa trẻ sẽ ở trong trạng thái hấp thụ vô thức và không chọn lọc cho đến năm 5-6 tuổi. Toàn bộ đứa trẻ đang được hình thành. Bằng cách sống và không có bất kì một nỗ lực, một sự ý thức nào, trẻ hấp thu mọi chi tiết nhỏ trong môi trường của mình, bằng cách đó, trẻ đang hình thành toàn bộ bản thân mình. Maria đã so sánh trí tuệ thẩm thấu của trẻ như một chiếc  máy ảnh, “nó hoạt động nhanh, dùng mọi thứ mà không cần nỗ lực, và không có ý chí” (Standing, 1957).

Giai đoạn/ thời kì nhạy cảm ngôn ngữ

          Trí tuệ thẩm thấu bộc lộ sức mạnh của mình thông qua các thời kì nhạy cảm. Tiến sĩ Maria nói: “Một trong những phép lạ rực rỡ nhất của thiên nhiên là sức mạnh mà người mới sinh mặc dù thiếu kinh nghiệm nhưng vẫn tự định hướng bản thân từ bên trong và để tự bảo vệ mình khỏi thế giới bên ngoài. Họ có thể làm điều này với sự giúp đỡ của bản năng vốn thuộc về các giai đoạn nhạy cảm của họ” (Montessori, The Secret of Childhood, 1936). Bà cũng quan sát thấy có một số giai đoạn phát triển quan trọng trong giai đoạn đầu đời của một đứa trẻ, trong khoảng thời gian quan trọng này, trẻ đã tự xây dựng thế giới tinh thần của mình và những sự phát triển này thường xảy ra ở những thời điểm cụ thể. Khi bước vào một giai đoạn nhạy cảm của một phương diện nhân cách nhất định, một đứa trẻ sẽ có một khoảng thời gian hữu hạn tuyệt vời để thụ đắc một đặc tính nào nó, sẽ rất là lãng phí nếu trẻ bị bỏ lỡ cơ hội này. Giai đoạn nhạy cảm giống như một ánh sáng rực rỡ, cho phép đứa trẻ trở  nên thành thục một hoạt động nhất định mà không cần nhiều nỗ lực. Tiến sĩ Montessori nhận ra rằng đứa trẻ đang hình thành nên toàn bộ bản thân mình, cả tâm thần, tinh thần và thể chất thông qua trí tuệ thẩm thấu với các giai đoạn nhạy cảm và sử dụng mọi thứ trong môi trường này để đạt được mục đích này. Trong những quan sát của mình, Maria cũng đồng thời nhận ra tầm quan trọng lớn lao của một môi trường được chuẩn bị tốt, qua đó đứa trẻ có thể tự xây dựng mình. Do đó bà đã nỗ lực xây dựng nên “Ngôi nhà trẻ thơ”- một môi trường đặc biệt tạo cơ hội cho trẻ di chuyển tự do và hấp thụ mọi điều mà trẻ thấy ở đó.

          Theo Maria,thời kì nhạy cảm ngôn ngữ bắt đầu từ khi sinh ra mà dấu hiệu nhận biết bên ngoài chính là nụ cười của trẻ. Ngôn ngữ được xem là nỗ lực tuyệt vời nhất của trẻ. Để lĩnh hội được ngôn ngữ, trẻ cần có một thời gian nhất định. Có một khoảng thời gian nhạy cảm đối với ngôn ngữ từ 0 đến 6 tuổi. Nếu khái niệm ngôn ngữ không được nắm bắt trong khoảng thời gian này, trẻ sẽ không bao giờ có thể học ngôn ngữ. Khi giai đoạn nhạy cảm trở nên rõ ràng, điều quan trọng là không bỏ lỡ cơ hội học tập. Từ khi sinh ra, thông qua môi trường ngôn ngữ xung quanh mình, trẻ liên tục hấp thụ những âm thanh xung quanh. Có thể ban đầu âm thanh sẽ gây nhầm lẫn và rối loạn cho trẻ. Tâm trí của trẻ ban đầu chưa có một ý nghĩ nào. Trẻ lắng  nghe và tràn ngập tâm trí mình bằng âm thanh. Đó là trong giai đoạn nhạy cảm ngôn ngữ mà trí tuệ thẩm thấu bên trong của trẻ giúp trẻ hiểu được những tiếng ồn này. Cơ bắp trong miệng và lưỡi bắt đầu di chuyển. Khi trẻ cố gắng hiểu được âm thanh ngôn ngữ, cơ miệng sẽ được sắp xếp giúp trẻ phát ra nhiều âm thanh bập bẹ. Trong giai đoạn đầu đời, người thân giao tiếp với trẻ không chỉ bằng ngôn ngữ mà còn bằng các cử chỉ điệu bộ phi ngôn ngữ. Những âm thanh ngôn ngữ được cố định trong tiềm thức của trẻ và được hiển thị sau đó.Ngôn ngữ cơ thể của mẹ và sự phản ứng với tiếng kêu của trẻ có thể ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ về sau của trẻ, ngôn ngữ cũng như thái độ tiêu cực của cơ thể có thể làm cho trẻ trở nên chậm phát triển ngôn ngữ.Từ khi chào đời, với tiếng khóc của trẻ mang nhiều thông điệp khác nhau gửi tới người lớn, như “con đói/ con ướt/ con lạnh/ con mệt…”. Từ 6 tháng tuổi, trẻ đã khóc và bập bẹ và bắt đầu hiểu những tiếng bập bẹ của mình như “ba ba”, “ma ma”…Khoảng 1 tuổi, trẻ bắt đầu có những từ đầu tiên. Trẻ bắt đầu nhận ra sự vật và đặt tên cho mọi thứ. Thông qua việc lặp đi lặp lại ngôn tự, trẻ trở thành giáo viên của chính mình. Kết thúc năm đầu đời, trẻ đã nhận ra rằng ngôn ngữ có một mục đích. Bà đã kể lại một ví dụ: “Khi chúng tôi nói với cậu bé: “Cậu bé yêu quý, cậu thật ngọt ngào”, cậu  ấy nhận ra điều này có ý nghĩa với cậu ấy” (Montessori, The Absorbent Mind, , 1949). Con trẻ nhanh chóng nhận ra quá trình và ý nghĩa của ngôn ngữ. Vào cuối năm đầu tiên, đứa trẻ đi từ việc học ngôn ngữ không ý thức sang có ý thức. Trong lớp học Montessori, Tiến sĩ Montessori gọi giai đoạn khi trẻ bắt đầu trở nên có ý thức sử dụng những từ là "giai đoạn nhạy cảm thứ hai cho ngôn ngữ". Cô nói, "Nó bây giờ là việc xây dựng các ngôn ngữ mà mê hoặc đứa trẻ, và sự quan tâm của trẻ bây giờ trở nên tập trung vào các mối quan hệ giữa các từ." (Standing, 1957)

Phát triển ngôn ngữ theo phương diện kĩ năng và tích hợp trong các lĩnh vực khác

          Tiến sĩ Montessori đã nhận ra tầm quan trọng của môi trường được chuẩn bị và mối quan hệ với trí tuệ thẩm thấu nên trong lớp học Montessori, có 4 lĩnh vực liên quan tới ngôn ngữ:

  1. Nghe
  2. Nói
  3. Viết
  4. Đọc

Bà đã tạo ra các học cụ liên quan tới lĩnh vực  ngôn ngữ. Bà cho rằng, “thời điểm học tập tốt nhất để trẻ học viết là từ 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi rưỡi.” (Standing, 1957).  Các hoạt động trong góc thực hành cuộc sống đã gián tiếp chuẩn bị cho trẻ học viết. Các hoạt động rót và chuyển vật đã dạy cho trẻ cách cầm bút chì để chuẩn bị cho trẻ học viết về sau. Thực hành cuộc sống giúp trẻ vận động các cơ bắp nhỏ, tạo ra sự thành thục trong vận động tinh giúp cho việc luyện viết sau này.

Trẻ cũng đồng thời lĩnh hội từ vựng thông qua việc giao tiếp trong vườn trẻ. Giao tiếp là chìa khóa để xây dựng trí thông minh của trẻ. Điều này dẫn tới sự hoàn thiện trong lời ăn tiếng nói. Các bài tập thực hành cuộc sống được giảng dạy với ngôn từ chắt lọc,chính xác, ngắn gọn, đơn giản dễ hiểu. Người hướng dẫn nói rõ ràng, chậm rãi. Người hướng dẫn có thể thể hiện sự hoạt động trong im lặng, trong khi quan sát trẻ. Chẳng hạn trong hoạt động rót  hạt vào phễu, trẻ có cơ hội sử dụng thị giác, thính giác. Trí thông minh, sự tập trung, sự phối hợp và kĩ năng vận động tốt đang được phát triển. Trẻ đang tinh chế cảm giác và cảm xúc của mình. Trẻ đang phát triển một phần nhận thức của mình về các đồ nhỏ. Tất cả các kĩ năng này đều cần thiết cho việc học viết cũng như tiếp tục phát triển thính giác, phát triển ngôn ngữ ở trẻ.

Các bài tập và biện pháp của Montessori được thiết kế để sửa đổi ngôn ngữ nói, tuy vậy bà khẳng định “nhưng trong phương pháp của tôi, tôi sẽ tìm ra tất cả các bài tập để sửa đổi ngôn ngữ” (Montessori, The Montessori Method, , 1912)

• Các bài tập trong im lặng chuẩn bị các kênh thần kinh của ngôn ngữ để nhận kích thích mới hoàn hảo.

• Bài học được giáo viên thể hiện bằng ngôn ngữ đơn giản, chính xác, chậm rãi,  tạo ra kích thích thính giác rõ ràng và hoàn hảo. Đứa trẻ phát âm to, lặp đi lặp lại các từ lại với giáo viên, phát âm âm thanh riêng biệt của mình.

• Ngôn ngữ trực quan phân tích các âm thanh được lặp đi lặp lại một cách riêng biệt trong một số cách. Ví dụ, trong các chữ cái của bảng chữ cái, các em học các âm thanh riêng biệt và sau đó tiếp tục đến tạo ra những từ và câu. Hộp thứ chữ cái nhỏ và các hoạt động sử dụng kết hợp với hộp hỗ trợ trẻ học tập ngôn ngữ.

• Bài học ba bước sẽ chau chuốt sự hiểu biết của trẻ về phát âm và sự hiểu biết của các từ. Chúng giúp trẻ phát triển sự nhận thức về các chữ cái và các từ.

Trẻ  hai tuổi rưỡi đến ba tuổi, trẻ bắt đầu quan tâm tới những vật liệu cảm quan. Một cách gián tiếp, các hoạt động cảm quan liên quan đến sự phát triển của kỹ năng viết và hơn nữa các kỹ năng ngôn ngữ của trẻ. Các hình dạng của các chữ cái giấy nhám và cảm giác của giấy nhám trau dồi nhận thức của trẻ về hình dạng của chữ cái. Trong hoạt động này, chạm vào là có tầm quan trọng hàng đầu hỗ trợ trẻ học tập. Việc học tập của các hình dạng cảm quan khác nhau và việc công nhận các hình dạng này giúp phát triển khả năng của trẻ để viết, và tiếp tục phát triển đọc sách. Một đứa trẻ  luôn luôn tìm cách thể hiện suy nghĩ của mình và hoàn thiện giai đoạn nhạy cảm của mình. Các hoạt động cảm quan và các tài liệu liên quan đến phần ngôn ngữ phát triển và tinh chỉnh ngôn ngữ nói của trẻ, ngôn ngữ viết và đọc sách. Sự lặp lại của các bài tập và Bài học ba bước củng cố sự hiểu biết của trẻ về các khái niệm ngôn luận, viết và đọc. Lên đến tuổi ba đến bốn tuổi từ của trẻ em đã được linh hoạt. Trẻ đã không được hiểu rõ ràng. Trẻ đã được sử dụng đơn lẻ, không có cấu trúc. Đó là một sự thay đổi đột ngột khi một đứa trẻ bắt đầu thấy được ý nghĩa của lời nói của mình và bắt đầu làm cho câu có cấu trúc. Từ bốn tuổi trẻ sẽ liên hệ lời nói miệng của mình với ngôn ngữ viết.

Tiến sĩ Montessori tiếp tục nói, "Viết là một hành động phức tạp mà cần phải được phân tích. Một phần của nó có tham chiếu đến cơ chế vận động và sự khác đại diện cho một nỗ lực thực sự và đúng đắn của trí tuệ. " (Montessori, The Discovery of the Child, 1948)

Tiến sĩ Montessori đã phát minh ra các vật liệu như các Khung kim loại và Chữ cái giấy nhám. Các khung kim loại giúp cho trẻ phát triển các kỹ năng và kiến ​​thức về vẽ đường thẳng và giữ cho chúng trong khung ranh giới của khung kim loại. Với một cây bút chì màu mà trẻ chọn, trẻ sẽ điền vào các con số mà trẻ đã vạch ra. Những bài tập này gián tiếp dẫn trẻ tới sự hình dung về các chữ cái và con số. Ngoài ra, trẻ học để hoàn thiện kiểm soát tốt của cây bút. Các thẻ mà trên đó các chữ cái đơn trong bản chữ cái được gắn kết với giấy nhám, và các thẻ lớn hơn với các nhóm của các chữ cái giống nhau, (nguyên âm) giúp đỡ để phát triển kỹ năng đọc và viết của trẻ. Họ phát triển phát âm của trẻ của các chữ cái và âm thanh. Các bài tập đọc và viết bắt đầu với các nguyên âm và sau đó giới thiệu một số phụ âm, tạo ra một âm thanh khi những chữ cái này liên kết lại với nhau. Những đứa trẻ học để kết hợp các âm thanh khi các chữ cái được gắn lại với nhau. thông qua sự lặp lại của âm thanh trong khi hoặc sau khi bài học. Ba học ba bước củng cố kiến ​​thức của trẻ về những âm thanh và hình dạng tạo thành các chữ cái.

 

Tiến sĩ Montessori đã chứng kiến sự bùng nổ nhạy cảm vào chữ viết của một đứa trẻ ở Ngôi nhà tuổi thơ ở San Lorenzo khi em đã được trao cho một mẩu phấn. Mọi người đã yêu cầu trẻ vẽ ống khói của ngôi nhà trên vỉa hè. Sau khi trẻ làm theo yêu cầu, Tiến sĩ Montessori đã khen ngợi cậu. Trong sự phấn khích bé nói, "con viết, con viết." Trẻ bắt đầu viết "mano" trên gạch. Sau đó, trẻ lại viết 'camino' (ống khói) và 'TETTO' (mái). Ông kêu lên: "con viết chữ này, con biết làm thế nào để viết rồi". Đây là lần đầu tiên trẻ đã xử lý bất kỳ một công cụ để viết và lần đầu tiên trẻ đã viết được. (Montessori, The Discovery of the Child, 1948)

Trong lớp học của Montessori trẻ được khuyến khích học viết qua tô màu, vẽ và làm biển tên cho đứa trẻ để trẻ sao chép. Viết trên khay cát giúp trẻ em để thử nghiệm với hình dạng khác nhau, các đường bổ sung và các đường cong. Những hình dạng hình thành cơ sở cho sự hình thành của các chữ cái và số.

Qua các biểu tượng hồng, xanh da trời và xanh lá trẻ sẽ nắm khái niệm không chỉ đơn vị từ mà còn là các đơn vị cụm từ và câu. Ban đầu đứa trẻ được giới thiệu với các thứ tự chữ cái hộp lớn và giấy nhám, cùng với thẻ hình ảnh và lời nói. Bộ chữ cái đỏ sẽ giới thiệu trẻ với những âm thanh ngôn ngữ. Bộ chữ cái xanh dương sẽ giới thiệu với trẻ những đơn vị ngữ âm lớn hơn và hỗn hợp phụ âm.

Bộ chữ màu xanh lá giới thiệu các âm thanh được tạo bởi hai chữ cái. Các giáo viên Montessori đã củng cố các âm thanh bằng cách sử dụng dải đọc xanh, chẳng hạn như dải câu và dải cụm từ.

Góc sách trong lớp học mầm non là điều cần thiết góp phần tinh chỉnh khả năng đọc và hơn nữa các kỹ năng ngôn ngữ của trẻ về cách phát âm và ngữ pháp. Các giáo viên cũng đóng một vai trò quan trọng khi đọc sách cho trẻ. Ngôn ngữ biểu hiện và thái độ của giáo viên khi đọc sách sẽ tạo ấn tượng cho  trẻ. Trẻ luôn sao chép, vì vậy thái độ tiêu cực và ngôn ngữ có thể có thể cản trở sự tiến bộ trong việc học đọc của trẻ. Đọc là một hoạt động vui vẻ và thú vị. Thời gian đọc truyện cần  được khuyến khích, đầu tiên giáo viên bắt đầu câu chuyện bằng một câu, và đứa trẻ sau đó tiếp tục câu chuyện với câu của riêng mình. Đây có thể là một hoạt động nhóm, nơi tất cả các trẻ em tiếp tục câu chuyện với câu của riêng mình. Các hoạt động phát triển sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ của trẻ.

Các bài học trong các lớp học chủ yếu được thực hiện trong sự im lặng. Điều này cho phép các con để kiểm soát suy nghĩ và sự tập trung của mình. Tiến sĩ Montessori nói, "thính giác cũng cung cấp cho chúng ta một khái niệm rõ ràng về các nguyên tắc cơ bản cho việc đào tạo của các giác quan. Điều này bao gồm khả năng nghe tốt. "Itard, sử dụng các nguyên tắc mà các giác quan thính giác có thể được đào tạo, thông qua sử dụng những âm thanh đó dần dần giảm bớt từ mạnh đến yếu. Điều này dạy cho người điếc làm thế nào để nghe rõ hơn và do đó để xác định các âm thanh khác nhau . Ông đã sử dụng phương pháp này thành công để chữa trị một số người khiếm thính. (Montessori, The Discovery of the Child, 1948)

Trong khu vực cảm quan của lớp học, một ví dụ về các vật liệu được sử dụng để hoàn thiện và đào tạo cảm giác thính giác là: Chuông và Hộp Âm thanh. Cả hai bài công pháp đều được thực hiện trong im lặng. Cả hai bài tập đều có những âm thanh với những cấp độ khác nhau.

Trò chơi im lặng giúp trẻ trong việc điều chỉnh cảm giác nghe của mình. Tiến sĩ Montessori nói: "Do đó chúng ta có thể hỗ trợ sự phát triển của các giác quan trong giai đoạn này bằng cách tạo và điều chỉnh các kích thích mà trẻ em được tiếp xúc nên giúp trẻ học cách nói trước khi trẻ có khả năng nói hoàn toàn ". Sau ba năm tuổi, thời kỳ nhạy cảm này bắt đầu suy giảm và sau đó mất đi mãi mãi. (Montessori, The Discovery of the Child, 1948)

Các bài tập toán học giới thiệu về từ vựng của trẻ. Trẻ được học khái niệm số, và từ vựng liên kết với mỗi số. Một ví dụ của các hoạt động như vậy là bài gậy số, trẻ tiếp tục phát triển ngôn ngữ và sự nhận thức và sự hiểu biết về số.

Các hoạt động văn hoá giới thiệu về ngôn ngữ mới, ví dụ như học những từ như 'đất đai', 'nước' và 'địa cầu'. Các hoạt động văn hoá khác nhau giới thiệu trẻ với các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Nhà chỉ huy có thể giới thiệu những từ như vậy thông qua các bài học nấu ăn hoặc các hoạt động tương tự liên quan đến các nền văn hoá khác nhau.

Các giáo viên cần phải đảm bảo môi trường được chuẩn bị  tốt để cung cấp cho trẻ cơ hội tốt nhất để học ngôn ngữ. Cô nên quan sát trẻ chặt chẽ và giới thiệu các vật liệu phù hợp với trẻ em khi trẻ trở nên sẵn sàng cho từng giai đoạn.

TS. Đinh Thanh Tuyến                         

Khoa Giáo dục Mầm non - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Montessori, M. (1997). Basic Ideas of Montessori’s Educational Theory.
  2. Montessori, M. (1948). The Discovery of the Child. 6th ed Ballantine Books.
  3. Montessori, M. (1949). The Absorbent Mind, . B N Publishing.
  4. Montessori, M. (1912). The Montessori Method, . B N Publishing.
  5. Montessori, M. (1936). The Secret of Childhood. Ballantine Books.
  6. Standing, E. M. (1957). Maria Montessori: Her Life And Work. Plume.

Tác giả: Mầm Non Việt