Biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số của Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt

22-10-2020 | Thư viện mầm non

Từ trước đến nay, việc dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục. Nó là phương tiện không thể thiếu để học tập và phát triển, là phương tiện để dạy và học, là nền tảng cho việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và các cấp học tiếp theo.

Chuẩn bị ngôn ngữ cho trẻ vào lớp một là một nhiệm vụ được coi là quan trọng bậc nhất của giáo dục mầm non. Để học được lớp một, trẻ em DTTS không chỉ nói sõi tiếng mẹ đẻ mà nhất thiết phải biết nói tiếng Việt. Bởi vì trẻ sẽ phải học chương trình giáo dục phổ thông quốc gia, chương trình cho mọi trẻ trên toàn quốc. Do đó việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS trước khi vào lớp một là cực kỳ quan trọng và cần thiết.

Thực hiện văn bản số 3039/ SGDĐT- GDTH ngày 27/10/2016 về việc triển khai kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025”,  đồng thời căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, trường CĐSP đã có kế hoạch đưa nội dung tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người DTTS vào chương trình đào tạo giáo viên mầm non. Trong hội thảo này xin giới thiệu một số việc làm mà chúng tôi đã thực hiện.

2. Thực trạng việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

Khoa Tiểu học-Mầm non trường CĐSP Đà Lạt đã và đang thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học và Mầm non nhằm phục vụ công tác giáo dục trong tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh kế cận.

Theo số liệu của Sở GD&ĐT Lâm Đồng, năm học 2015 - 2016, toàn tỉnh có 225 trường mầm non, mẫu giáo. Huy động 64.622/121865 trẻ đến trường trong đó số trẻ em DTTS được huy động đến lớp mầm non 12.764/32.558 trẻ, chiếm tỷ lệ 39,20% so với tổng số trẻ em DTTS trong độ tuổi và 19,75% so với tổng số trẻ đến trường, lớp mầm non.

Trường, lớp mầm non ở vùng dân tộc đều thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo hướng dẫn thực hiện chương trình tại vùng khó khăn, tiếp tục thực hiện chuẩn bị  tiếng Việt cho 6.231 trẻ em DTTS tại 778 lớp MG để chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp một. Năm 2016, trẻ em DTTS trong độ tuổi nhà trẻ được tăng cường tiếng Việt đạt tỉ lệ 25%, mẫu giáo là 80%.

Trong chương trình đào tạo cử nhân giáo dục Mầm Non hiện hành, các học phần chỉ tập trung trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản, phương pháp tổ chức, thực hiện trên trẻ nói chung mà chưa có nội dung hoặc học phần cụ thể nào (dù là chuyên đề hay ngoại khóa, học phần tự chọn, thay thế) hướng đến đối tượng là sinh viên DTTS hoặc các nội dung hướng dẫn cho trẻ em là người DTTS tại địa phương.

Giảng viên giảng dạy tại trường đều là người Kinh nói tiếng Việt, việc sử dụng tiếng DTTS địa phương rất hạn chế. Bên cạnh đó, sinh viên là người DTTS sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình cũng không thành thạo, thậm chí không sử dụng.

Phương pháp, hình thức dạy học các học phần chủ yếu hướng đến đối tượng là trẻ em phát triển bình thường, trẻ em sử dụng ngôn ngữ phổ thông mà chưa có những nội dung, phương pháp, hình thức và cách đánh giá việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng miền núi, dân tộc thiểu số.

Với việc chưa biết nói, hiểu tiếng Việt khi đi học, trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, tham gia hoạt động giáo dục cũng như tiếp thu kiến thức. Những rào cản về ngôn ngữ khiến các em tự ti, học kém. Đây là nguyên nhân chính gây ra tình trạng trẻ bỏ học điều này ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phổ cập và chất lượng giáo dục nói chung.

Bên cạnh đó, chương trình đào tạo tại các trường sư phạm chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, nhu cầu thực tế tại địa phương. Sinh viên ra trường chưa thực hiện được những nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số.

3. Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho trẻ DTTS

 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho giảng viên, sinh viên ngành mầm non:

Thực hiện công văn số 3039/ SGDĐT- GDTH ngày 27/10/2016 về việc triển khai kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” của Sở Giáo dục và đào tạo Lâm Đồng, Khoa Tiểu học Mầm non đã tiến hành tuyên truyền, phổ biến về mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của Đề án nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và sinh viên đối với việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số.

Để thực hiện nhiệm vụ này, tổ Nghiệp vụ Mầm non triển khai trước hết trong tổ chuyên môn để mọi cán bộ, giảng viên trong tổ “biết – hiểu – thực hiện” có hiệu quả đề án, từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy vào từng học phần mà mình phụ trách.

Việc tuyên truyền còn được tiến hành thông qua các kênh thông tin như facebook của khoa, website của nhà trường... tại đây các văn bản, quyết định, kế hoạch về đề án được phổ biến rộng rãi đến giảng viên, cán bộ quản lý, sinh viên và cộng đồng quan tâm.

 Rà soát, điều chỉnh và phát triển chương trình đào tạo:

Chương trình đào tạo cử nhân Giáo dục Mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số 233/QĐ-CĐSP  ngày 15 tháng 4 năm 2014 của Hiệu trưởng Trường CĐSP Đà Lạt đã thể hiện được nguyên tắc cơ bản, khoa học, hiện đại và thực nghiệp. Tuy nhiên để có thể đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của ngành giáo dục luôn đổi mới và thực hiện được đề án thì việc rà soát, điều chỉnh và phát triển chương trình đào tạo là hết sức cần thiết. Việc điều chỉnh chương trình sẽ góp phần sắp xếp, cân đối lại các học phần có trong chương trình đào tạo sao cho giảm bớt thời lượng lý thuyết mang tính hàn lâm, tăng thời lượng cho hoạt động thực hành, thực tế và trải nghiệm, đặc biệt có thể xây dựng, bổ sung học phần tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS. Việc xây dựng học phần này đòi hỏi phải thể hiện được: Những vấn đề chung về phương pháp dạy học tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai; nội dung và phương pháp dạy học tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai; cách tổ chức, vận dụng nội dung, phương pháp dạy tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai cho trẻ em DTTS. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng tiếng dân tộc, trang bị thêm văn hóa, ngôn ngữ bản địa cho giảng viên và sinh viên như là ngôn ngữ thứ hai cũng là việc làm cần thiết. Việc hiểu văn hóa, sử dụng được ngôn ngữ địa phương như ngôn ngữ thứ hai sẽ giúp giảng viên và sinh viên dễ dàng tiếp cận và tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS.

 Tăng cường các hoạt động nghiệp vụ trong Tổ chuyên môn:

Để việc thực hiện đề án có hiệu quả, ngay từ đầu năm học, tổ chuyên môn đã triển khai các nội dung theo kế hoạch, trong đó chú trọng việc yêu cầu giảng viên giảng dạy học phần phải có lồng ghép nội dung tăng cường tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai cho trẻ em DTTS. Hoạt động này được tổ chuyên môn tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phổ biến nội dung các văn bản của Bộ, Tỉnh của Sở về việc thực hiện kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS tới từng giảng viên. Việc làm này giúp giảng viên hiểu được mục đích, yêu cầu và kế hoạch thực hiện.

Bước 2: Giảng viên xây dựng kế hoạch giảng dạy học phần có bổ sung phần tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS, phù hợp với nội dung của học phần theo chương trình đào tạo.

Bước 3: Tổ chức semina, trao đổi, thảo luận về nội dung, phương pháp, hình thức tiến hành các hoạt động tăng cường tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai cho trẻ. Cụ thể:

Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động khám phá khoa học và tìm hiểu xã hội; rèn kĩ năng phát âm tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen chữ viết; kết hợp dạy nói và dạy nghe tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen văn học; tạo môi trường học tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi; tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua việc tổ chức hoạt động âm nhạc; củng cố vốn tiếng Việt cho trẻ trong chế độ sinh hoạt hàng ngày; tổ chức hướng dẫn sinh viên làm đồ dùng, đồ chơi, học liệu, tranh ảnh phù hợp, thân thiện với trẻ em người DTTS nhằm tăng cường tiếng Việt thông qua vật dụng trực quan; biện pháp phối hợp với gia đình trẻ trong công tác tăng cường Tiếng Việt...

Bước 4: Giảng viên tiến hành giảng dạy các học phần cho sinh viên với nội dung lồng ghép tăng cường tiếng Việt ở từng bài, từng chương trong học phần mình phụ trách (thí điểm) theo gợi ý của tổ chuyên môn. Sau khi giảng dạy, giảng viên báo cáo kết quả đã thực hiện (giờ dạy có đồng nghiệp dự giờ) nhằm đánh giá một lần nữa biện pháp, nội dung, hình thức tiến hành việc tăng cường tiếng Việt ở từng học phần.

Bước 5: Đánh giá những kết quả đạt được, khoa có kế hoạch tổ chức các chuyên đề cấp khoa, cấp tổ, hội nghị khoa học cấp Khoa về việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS ở tổ nghiệp vụ và trong sinh viên. Từ những bài học đạt được, tổ chức giảng dạy  nội dung tăng cường tiếng Việt ở những bài, những học phần có nội dung phù hợp.

 Hướng dẫn sinh viên sử dụng hiệu quả phương pháp trực quan hành động:

Phương pháp trực quan hành động (PPTQHĐ) là phương pháp dạy học ngôn ngữ thông qua hành động (nghe, quan sát và thực hiện bằng hành động cơ thể) phương pháp này được chứng minh là rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới (ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng.

PPTQHĐ được áp dụng để dạy trẻ khi bắt đầu học một ngôn ngữ mới, với mục đích hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe - nói một ngôn ngữ mới; hiểu và sử dụng được ngôn ngữ mới trong giao tiếp; hình thành khả năng tự tin, thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ mới, và duy trì hứng thú học tập;

Việc sử dụng PPTQHĐ có những ưu điểm cơ bản như: Trẻ tiếp thu hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên; duy trì và sử dụng được ngôn ngữ  một cách liên tục và có hệ thống; kích thích quá trình học tập với sự tham gia tích cực của người học, không gây căng thẳng trong quá trình học; đơn giản, dễ áp dụng một cách sáng tạo và linh hoạt.

Trong quá trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ em DTTS có thể áp dụng các loại hình của phương pháp trực quan hành động sau: Trực quan hành động với cơ thể: Học ngôn ngữ thông qua hoạt động với các vận động cơ bản của cơ thể; trực quan hành động với đồ vật: Học ngôn ngữ thông qua hoạt động của cơ thể với các đồ vật; trực quan hành động với hình ảnh: Học ngôn ngữ thông qua hoạt động với hình ảnh (tranh ảnh có sẵn, vẽ tranh, di chuyển đến tranh); trực quan hành động với các câu chuyện: Học ngôn ngữ thông qua hoạt động với nội dung các câu chuyện.

Quy trình thực hiện phương pháp TQHĐ gồm: Lắng nghe: Nghe ngôn ngữ mới (từ mới, câu, lời chỉ dẫn, khẩu lệnh); quan sát: Quan sát những người khác thực hiện các hành động theo khẩu lệnh; thực hiện: Thực hiện các hành động theo các khẩu lệnh đó. Các yếu tố trên cần được kết hợp đồng thời với nhau trong suốt quá trình thực hiện.

Quá trình thực hiện phương pháp gồm 3 bước cơ bản: Làm mẫu: ở bước này có thể giáo viên làm mẫu, cũng thể thể mời trẻ cùng làm mẫu với giáo viên, mỗi lần làm mẫu thực hiện 3 lượt.

Thực hành: Đây là giai đoạn quan trọng, do vậy giáo viên sẽ cùng thực hành với trẻ theo hình thức nhóm, cặp, giáo viên nói từ, trẻ thực hiện hành động (3 lần), sau đó trẻ vừa nói vừa thực hiện hành động (mỗi cặp, nhóm làm 3 lần), cuối cùng là trẻ thực hành theo nhóm hoặc cá nhân. Yêu cầu của bước này là tất cả trẻ trong lớp cùng được thực hành.

Ôn luyện: Giáo viên cùng trẻ ôn luyện các nội dung vừa học thông qua các hình thức trò chơi, trong mọi lúc mọi nơi.

Để thực hiện có hiệu quả phương pháp trực quan trong quá trình dạy tiếng Việt cho trẻ, giáo viên cần tuân theo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó. Thứ hai, học tiếng Việt gắn với tình huống và ngữ cảnh cụ thể để trẻ học cách sử dụng đúng từ và câu nói trong các tình huống phù hợp tương tự. Thứ ba, học tiếng Việt đảm bảo theo một trình tự nhất định. Thứ tư, khi dạy từ và câu mới, cần đảm bảo nguyên tắc con số 3. Thứ năm sử dụng linh hoạt các phương pháp trong quá trình dạy tiếng Việt kích thích tư duy sáng tạo của trẻ trong sử dụng ngôn ngữ.

Ngoài ra trong quá trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS, giáo viên cần chú ý đến phương pháp và điều kiện thực hiện, theo đó phương pháp thực hiện phải đảm bảo sự hứng thú và mạnh dạn tự tin trong học tiếng Việt, trẻ học vui vẻ qua các trò chơi, học trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Từ, câu phải gắn với kinh nghiệm sống và ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của trẻ; chú trọng việc học tiếng Việt thông qua các bài hát, thơ, đồng dao, ca dao, vè, chuyện kể có nội dung gần gũi với trẻ. Tăng cường cho trẻ giao tiếp bằng tiếng Việt trong cuộc sống hàng ngày. Đảm bảo môi trường tiếng Việt phong phú, tạo môi trường chữ viết bằng tiếng Việt chuẩn mực, bắt mắt và đa dạng. Tạo mối liên hệ giữa tiếng Việt với tiếng mẹ đẻ của trẻ; tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng để trẻ học tiếng Việt.

Về điều kiện thực hiện: Dạy tiếng Việt tốt nhất khi và chỉ khi trẻ được nói bằng tiếng Việt nhiều nhất. Do đó trong các hoạt động giáo dục, giáo viên tăng cường hỏi trẻ, khuyến khích trẻ nói càng nhiều càng tốt. Đồ dùng học tập tốt nhất là: bộ phận cơ thể, đồ vật, vật thật, động tác, tranh ảnh. Hạn chế sử dụng máy tính, bởi công nghệ thông tin chỉ giúp trẻ nhìn, khó có thể cảm nhận được chính xác thế giới xung quanh (nghe, ngửi, nếm hoặc sờ trực tiếp) cũng như trẻ ít có cơ hội được nói tiếng Việt.

 Xã hội hóa giáo dục và mở lớp dạy tiếng dân tộc cho giảng viên, sinh viên và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non:

Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS không thể thành công nếu không có sự chung tay của mọi thành phần trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, giáo dục mầm non nhất thiết phải có kế hoạch phối hợp với cha mẹ trẻ, với các lực lượng khác nhau trong xã hội như già làng, trưởng bản, cộng đồng tại địa phương để tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Bởi với thực trạng giảng viên và giáo viên mầm non, sinh viên biết và sử dụng được tiếng DTTS còn ít như nêu ở trên đã và đang là những rào cản làm chậm tiến độ thực hiện kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ, thậm chí là không thành công.

Bên cạnh đó để những người trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ chủ động và thuận lợi trong công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ thì việc dạy tiếng dân tộc cho họ là vô cùng cần thiết. Lớp học này có thể được mở dưới hình thức học tập trung và cấp chứng chỉ theo chương trình dạy tiếng dân tộc của Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng; các cơ sở giáo dục mầm non cũng có thể linh hoạt, chủ động mở các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên dịp cuối tuần, với người bồi dưỡng là chính giáo viên trong đơn vị hoặc những người có năng lực trong cộng đồng dân cư. Qua đó, giáo viên biết một số từ thông dụng, có thể hỗ trợ trong quá trình truyền đạt tiếng Việt cho trẻ, nhất là ở nhóm nhà trẻ. Nếu những trường không có giáo viên dân tộc thiểu số, nhà trường có thể nhờ người dân biết tiếng Việt hỗ trợ khi giáo viên nói nhưng trẻ chậm hiểu, hoặc trẻ chưa có vốn tiếng Việt đủ để hiểu.

Tại trường sư phạm, giảng viên trực tiếp giảng dạy và sinh viên (kể cả sinh viên DTTS không có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình) cũng cần tăng cường các hoạt động nghiệp vụ trong đó có học lớp tiếng dân tộc thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên đề, tham gia lớp học tập trung. Sinh viên người DTTS duy trì môi trường tiếng mẹ đẻ nhưng đồng thời mở rộng, củng cố vốn từ tiếng Việt trong sinh hoạt, học tập và công tác.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”;

2. Quyết định số 2805/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành kế hoạch thực hiện Đề án Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”;

3. Công văn số 3039/ SGDĐT- GDTH ngày 27/10/2016 về việc triển khai kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng DTTS giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” của Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo Lâm Đồng;

4. Tài liệu tập huấn Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm- giáo dục phát triển ngôn ngữ.

5. Khung kế hoạch đào tạo ngành giáo dục Mầm non ban hành kèm theo quyết định 233/QĐ-CĐSP ngày 15 tháng 4 năm 2014 của Hiệu trưởng Trường CĐSP Đà Lạt.

Tác giả: Mầm Non Việt