Thực trạng và những rào cản trong quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục ở Việt Nam

23-10-2020 | Tin tổng hợp

Trong vài năm trở lại đây, tại khu vực đông dân cư, khu vực có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất có tình trạng tăng dân số cơ học, chủ yếu là dân nhập cư. Phần lớn trong số này là lao động phổ thông, là công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, tuổi còn trẻ và có con trong độ tuổi mầm non. Do dân số cơ học tăng nhanh, các trường mầm non công lập trên địa bàn không đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ nhà trẻ (dưới 36 tháng tuổi). Chính vì vậy, các nhóm trẻ độc lập tư thục (ĐLTT) có vai trò quan trọng trong việc góp phần chia sẻ, giải tỏa sức ép từ nhu cầu gửi trẻ trong điều kiện các trường công lập không đáp ứng được. Kết quả điều tra gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mầm non - Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã cho thấy bức tranh khái quát về thực trạng hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT và công tác quản lý, phối hợp  quản lý các nhóm trẻ ĐLTT của các ban ngành, tổ chức xã hội tại địa phương. Thực trạng đã cho thấy vẫn tồn tại nhiều rào cản làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả quản lý và chất lượng hoạt động của nhóm trẻ ĐLTT. Trên cơ sở kết quả điều tra thực trạng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ và quản lý các nhóm trẻ ĐLTT tại một số địa bàn (đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng dân tộc thiểu số), bài viết xác định các rào cản trong công tác quản lý đồng thời đề xuất một số khuyến nghị khắc phục rào cản trong trong công tác quản lý các nhóm trẻ ĐLTT. 

I. Đôi nét về thực trạng hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT và quản lý các nhóm trẻ ĐLTT

1. Phần lớn nhóm trẻ ĐLTT thực hiện tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng, bảo đảm an toàn cho trẻ. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục trẻ chưa được chú trọng, đặc biệt là chất lượng thực hiện Chương trình giáo dục mầm non cho lứa tuổi nhà trẻ và các điều kiện cần đảm bảo để thực hiện Chương trình, như cơ sở vật chất, tài chính, nhân sự, chế độ chính sách cho đội ngũ.

2. Việc bảo đảm chi phí thấp phù hợp với khả năng chi trả của người dân, nhưng lại đang là rào cản trong đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và phát triển nhóm trẻ.

3. Ngành giáo dục từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều công văn chỉ đạo các địa phương tăng cường quản lý các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập, đặc biệt chú trọng kiểm tra cấp phép đối với các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn. Tuy nhiên, phần lớn chính quyền cấp tỉnh, thành phố thường giao hẳn trách nhiệm giám sát, quản lí các nhóm trẻ ĐLTT cho ngành giáo dục, nên gây nhiều khó khăn cho ngành giáo dục trong việc phối hợp với chính quyền, các tổ chức xã hội tại địa phương.

4. Việc quản lí nhóm trẻ ĐLTT đã được các cấp chính quyền quan tâm, hỗ trợ, hướng dẫn khi thành lập nhóm, đặc biệt là Phòng giáo dục và đào tạo cấp huyện và UBND Phường, xã. Tuy nhiên trên thực tế, việc phân công nhiệm vụ chưa đồng bộ với phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm quản lý tài chính, nhân sự và các vấn đề khác, còn thiếu quy định các điều kiện thực hiện nhiệm vụ. Từ đó, đã tạo ra sự lúng túng không đáng có trong phân cấp, nhất là ở chính quyền cấp dưới khi được phân cấp.

5. Phân cấp chưa phù hợp với tình hình quản lý ở địa phương, đặc biệt chưa phù hợp với năng lực (vượt quá khả năng) của chính quyền cấp dưới, chưa tính đến các điều kiện và đặc thù về kinh tế - xã hội tại các địa phương (ví dụ: cán bộ cấp xã/phương có chuyên môn về giáo dục còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, trong khi số lượng nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn lại rất lớn). Thực tế cho thấy, không thể phân cấp đồng loạt giống nhau giữa các địa phương, mà cần tính đến sự phù hợp với các đặc thù để đảm bảo tính khả thi trong thực hiện phân cấp.

6. Phân cấp chưa đi đôi với nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát của cấp trên, gắn quyền hạn với trách nhiệm được giao; chưa thực hiện nghiêm túc việc tự báo cáo, tự giải trình và còn thiếu những cơ chế để bảo đảm sự quản lý thống nhất của cấp trên. Ví dụ, cơ chế giám sát, đánh giá từ cấp trên để kịp thời đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết; cơ chế kết hợp giữa báo cáo của cấp dưới với việc giám sát từ cấp trên là rất cơ bản, có ý nghĩa bảo đảm thực hiện phân cấp có hiệu quả. Việc đẩy mạnh phân cấp, nêu cao trách nhiệm độc lập tự quyết định chỉ được tiến hành và thực hiện tốt khi xây dựng được chế độ báo cáo, giải trình để có thông tin cho việc quản lý và giám sát, đánh giá.

II. Các rào cản trong công tác quản lý nhóm trẻ ĐLTT

1. Các chính sách, các quy định, chế độ mang tính pháp quy về quản lý nhóm trẻ ĐLTT

- Điều lệ trường mầm non và Quy chế tổ chức hoạt động trường mầm non tư thục quy định thẩm quyền thành lập, giải thể đối với nhóm trẻ ĐLTT thuộc về UBND cấp xã và phòng GD&ĐT cấp huyện với người chịu trách nhiệm là chủ tịch UBND xã và trưởng phòng GD&ĐT. Tuy nhiên chưa có những quy định rõ ràng về trách nhiệm hỗ trợ các cơ sở này từ phía chính quyền các cấp.

- Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục có sự phối hợp liên ngành cũng đã được đề cập tới trong các văn bản chỉ đạo, tuy nhiên quy định trách nhiệm và  quy tắc phối hợp giữa các bên liên quan còn chưa rõ ràng. Theo sự phân cấp quản lý hiện nay thì nhóm trẻ độc lập tư thục chịu sự quản lý phụ thuộc vào nhiều cơ quan, đối tượng khác nhau: hoạt động chịu sự quản lý của UBND cấp xã; chuyên môn chịu sự quản lý của ngành giáo dục mà trực tiếp là phòng giáo dục; cơ sở vật chất phụ thuộc vào chủ đầu tư; kinh phí hoạt động do chủ đầu tư quy định và thỏa thuận với phụ huynh, mối quan hệ gắn bó liên ngành giữa giáo dục, y tế, hội phụ nữ, ngành lao động, thương binh và xã hội (chăm sóc trẻ em)….  Nếu không có cơ chế đảm bảo sự phối kết hợp có hiệu quả giữa chính quyền, các ban ngành địa phương, các cơ quan giáo dục, các trường mầm non công lập với các nhóm trẻ ĐLTT thì việc quản lý nhóm trẻ ĐLTT sẽ còn gặp nhiều khó khăn.

Hệ thống văn bản quản lý hiện nay vẫn tồn tại các văn bản theo xu hướng đơn hành chỉ được sử dụng trong một lĩnh vực, một nội dung quản lý nào đó và có giá trị trong thời điểm nhất định. Do đó, làm hạn chế khả năng phổ biến và duy trì tác dụng thực tiễn của các văn bản

- Còn thiếu các văn bản mang tính quy chuẩn, được sử dụng nhiều lần, làm cơ sở cho các nhóm trẻ chủ động trong việc tự đánh giá, kiểm định trong quá trình thành lập và duy trì hoạt động của nhóm

- Một số quy định đối với việc thành lập và hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT chưa phù hợp với đặc thù của từng vùng miền. Ví dụ: Quy định về trình độ chuyên môn GDMN của chủ nhóm ở mức thấp hoặc chỉ cần có chứng chỉ quản lý đã hạn chế khả năng quản lý, giám sát và hỗ trợ chuyên môn trong nhóm. Mặt khác, yêu cầu về chuyên môn GDMN đối với chủ nhóm đôi khi gây nên những khó khăn nhất định, làm hạn chế sự phát triển các nhóm lớp đặc biệt là ở những vùng có nhu cầu gửi còn cao như khu công nghiệp, khu chế xuất; Hạn chế nguồn đầu tư nâng cao chất lượng CSVC cho các nhóm trẻ. Nhà đầu tư (chủ nhóm) có khi chỉ đơn thuần là người có khả năng tài chính đầu tư vào lĩnh vực này nhưng họ có thể hợp tác với người có chuyên môn GDMN để phụ trách chuyên môn trong nhóm; Các nhóm trẻ ĐLTT, đặc biệt là các nhóm lớp ghép độ tuổi khó khăn trong triển khai thực hiện Chương trình GDMN hiện hành...

- Còn thiếu chế độ chính sách ưu đãi cho trẻ dưới 3 tuổi cản trở việc đảm bảo sự bình đẳng về giáo dục cho mọi trẻ.

- Các quy định về chế độ làm việc đối với GVMN chưa tính đến đặc thù công việc: tại điều 4 của Thông tư số 48/2011/TTBGD ĐT ghi rõ “giờ dạy của GVMN đối với các nhóm trẻ học 2 buổi/ngày mỗi giáo viên dạy trên lớp đủ 6h/ngày và thực hiện các công việc chuẩn bị cho giờ dạy trên lớp cũng như các công việc khác để quy đổi đảm bảo 40h/tuần”. Như vậy nếu tính trung bình theo quy định, mỗi ngày GV sẽ được tính làm việc 8h. Trên thực tế, số giờ làm việc của GV nhiều hơn con số này (GV phải đến sớm vệ sinh lớp và chuẩn bị đón trẻ, thực hiện vệ sinh dọn dẹp sau khi trẻ ra về, chuẩn bị các đồ dùng trực quan để dạy trẻ…) và những trách nhiệm về sức khỏe và tính mạng của trẻ đối với GVMN là rất cao thì chưa được xem xét và đưa ra những quy định rõ ràng để hỗ trợ, khuyến khích hay giảm tải công việc cho GVMN.

- Chính sách phân bổ kinh phí chưa đảm bảo sự công bằng cho trẻ giữa các cơ sở GDMN: chỉ phân bổ cho trẻ trường công lập mà không phân bổ cho ở các cơ sở ngoài công lập.

- Nhiều địa phương có khu công nghiệp, khu chế xuất đã có nhiều qui định riêng hỗ trợ cho các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn như miễn thuế, hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi cho nhóm trẻ ĐLTT, tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ, hỗ trợ tiền ăn cho trẻ con em công nhân trong các khu công nghiệp, hỗ trợ tài chính cho CBQL, giáo viên trường công lập khi tham gia quản lý, hỗ trợ chuyên môn cho nhóm ĐLTT... Tuy nhiên, tại khu đông dân cư, khu vực dân tộc thiểu số chưa có các chính sách đặc thù hay quy định riêng để hỗ trợ phát triển các nhóm ĐLTT.

- Trong quy hoạch chi tiết trường học của địa phương, chưa có quy hoạch nhóm trẻ độc lập. Vì vậy, ở nhiều nơi các nhóm trẻ phát triển với mật độ quá dày, dàn trải đầu tư, dẫn tới chất lượng của các nhóm không ổn định.

- Trẻ nhập cư chịu nhiều thiệt thòi: Một số địa phương có khu công nghiệp, trẻ nhập cư có hoàn cảnh khó khăn nhưng không có hộ khẩu, không được hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước (hỗ trợ ăn trưa, chi phí học tập).

- Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi được các địa phương dành mọi nguồn lực về nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính...để thực hiện. Do đó, chưa đủ điều kiện   quan tâm đến trẻ dưới 36 tháng, gây nên sự thiếu công bằng giữa trẻ ở các độ tuổi.

- Qui định về số trẻ/nhóm và các yêu cầu để thành lập trường MN TT gây ra khó khăn trong quy hoạch và QL: nhiều nhóm ở khu vực đông dân cư vượt quá con số quy định song các điều kiện về CSVC  lại không đảm bảo lên trường. Yêu cầu trả bớt trẻ thì trẻ không có chỗ gửi.

- Còn thiếu văn bản hướng dẫn quản lý về một số trường hợp sau (tương đối phổ biến ở các khu công nghiệp, khu đông dân cư):

+ Một vài chủ nhóm kinh doanh, đầu tư thành lập nhóm được khoảng 20 trẻ thì bán chuyển giao cho chủ khác thu lợi.

+ Quy định mỗi chủ nhóm lớp chỉ được đăng kí 1 nhóm lớp song có những cá nhân làm chủ nhiều nhóm ở các Quận/Huyện khác.

+ Một số chủ nhóm là người phường khác đến thuê địa điểm tại phường, khi không đủ điều kiện CSVC hoặc thu nhận được quá ít trẻ, nhóm tự giải thể hoặc bán sang nhượng cho chủ thế khác và không thông báo cho phường biết, gây khó khăn không nhỏ cho quản lý nhóm trẻ ĐLTT của chính quyền địa phương

+ Tồn tại những nhóm trẻ gia đình hoạt động theo nhu cầu của phụ huynh theo thời vụ, hoặc hoạt động lẫn trong khu dân cư theo hình thức “trông con cháu”, rất khó kiểm soát.

2. Việc thực hiện chế độ, chính sách

- Việc cụ thể hóa các quy định vấp phải những trở ngại, khó thực hiện

+ Nhiều địa phương thiếu quỹ đất quy hoạch xây dựng trường mầm non

+ Có nhiều điều kiện ràng buộc trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục (hỗ trợ hỗ trợ cho thuê đất, cho thuê nhà, cho mua trả chậm, cho vay dài hạn với lãi suất thấp…) khiến cho các chính sách không khả thi đối với nhóm trẻ ĐLTT. Nhiều chủ nhóm muốn vay vốn nhưng không đủ điều kiện chứng minh tài chính hay tài sản thế chấp nên vẫn không vay được. Điều này khiến cho các nhóm trẻ ĐLTT đang phải đương đầu giải quyết bài toán kinh tế giữa kinh doanh có lợi nhuận với đảm bảo yêu cầu về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

+ Chưa có chính sách hỗ trợ chế độ BHXH, phúc lợi xã hội cho giáo viên ngoài công lập ảnh hưởng tới sự ổn định nhân sự ở các nhóm lớp ĐLTT, gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng CSGD trẻ ở các nhóm lớp.

Nhiều địa phương thực hiện các chính sách công nhận và tôn vinh các CBQL, GV, Nv, các nhóm trẻ DLTT còn chưa thực sự công bằng và bình đẳng với khối trường công lập.

+ Do đặc thù, đội ngũ GV làm việc cả tuần, định biên GV/lớp ít, nên khó tham gia các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Nhân sự của trường công lập phải kiêm nhiệm công tác quản lý nhóm trẻ ĐLTT, trong khi công việc chính tại trường cũng rất nhiều, số lượng nhóm trẻ ĐLTT ở nhiều địa bàn quá lớn nên rất vất vả mà không được bất cứ khoản hỗ trợ nào hoặc hỗ trợ rất ít. 

- Điều kiện thực hiện các chính sách, quy định, chế độ mang tính pháp quy về quản lý nhóm trẻ ĐLTT còn bất cập

+ Về nhân lực

Lực lượng chuyên trách còn mỏng và phải đảm trách nhiều công việc:  Đội ngũ cán bộ chuyên trách của các Phòng GD còn mỏng, phải phụ trách địa bàn rộng. Cán bộ văn xã của UBND cùng lúc phải đảm trách nhiều mảng khác, không riêng GDMN. Trường MNCL bản thân phải đảm trách nhiều việc của trường thêm vào đó số lượng các nhóm ĐLTT trên địa bàn khá lớn nên sự giám sát, hỗ trợ cho các nhóm trẻ ĐLTT trở thành áp lực, gây ra những hạn chế về hiệu quả thực tế.

Lực lượng phối hợp kiểm tra giám sát các cơ sở GDMN ngoài công lập thuộc các tổ chức xã hội không được quy định trách nhiệm rõ ràng  và không có chuyên môn về MN nên việc kiểm tra nhiều khi mang tính hình thức, không thực chất.

+ Về tài chính

Nhiều chủ nhóm hạn chế về tài chính và phải đứng trước bài toán kinh tế lỗ -lãi nên không có điều kiện đầu tư nâng cấp CSVC cho các nhóm lớp.

Chưa có kinh phi hỗ trợ cho các lực lượng tham gia quản lý, hỗ trợ các nhóm trẻ ĐLTT (trường MNCL, chuyên trách văn xã của UB, cán bộ các tổ chức xã hội)      

- Nhận nhận thức, thái độ ứng xử của các cấp quản lý, các tổ chức, CM, chủ nhóm

+ Công tác quản lý các nhóm trẻ ĐLTT ở nhiều địa phương vẫn chưa được các cấp chính quyền các tổ chức XH  vào cuộc một cách tích cực. Trách nhiệm được giao hoàn toàn cho Phòng GD.

+ Cha mẹ trẻ chưa nhận thức được trách nhiệm và quyền được tham gia quản lý các hoạt động chăm sóc giáo dục của các nhóm trẻ.

+ Chủ các nhóm trẻ chưa nắm rõ các văn bản luật quy định về quyền hạn, trách nhiệm, các yêu cầu trong việc cấp phép và hoạt động của nhóm. Do đó họ gặp nhiều khó khăn, trong việc tự đánh giá và thường mang tâm lý đối phó, thiếu tự tin khi tiếp xúc với các cấp QLNN và QL ngành.

III. Một số khuyến nghị

- Nhà nước có điều chỉnh chế độ làm việc, trợ cấp (phụ cấp trách nhiệm) cho GVMN trong và ngoài công lập; hỗ trợ kinh phí đóng BHXH cho GV của nhóm trẻ ĐLTT.

- Xây dựng văn bản giải quyết vấn đề BHXH, BHYT cho giáo viên ngoài công lập thông qua sự phối hợp, phân công trách nhiệm giữa UBND cấp huyện, phòng GD&ĐT và phòng BHXH cấp huyện.

- Có quy chế phối hợp giữa các ban ngành, tổ chức xã hội trong công tác quản lý các nhóm trẻ ĐLTT. Gắn chặt trách nhiệm của chính quyền địa phương, quy trách nhiệm liên đới trong công tác quản lý hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn.

-  Điều chỉnh các quy định, điều kiện được vay vốn, thuê đất…phù hợp với khả năng đáp ứng của chủ nhóm để các chính sách hỗ trợ theo quy định của nhà nước không chỉ là sự hỗ trợ trên giấy.

- Quy chế hoạt động trường mầm non tư thục cần quy định phân biệt và tách riêng vai trò của nhà đầu tư (chủ nhóm) và điều hành chuyên môn (phụ trách chuyên môn của nhóm). Điều này giúp thu hút những người có khả năng tài chính tham gia phát triển nhóm trẻ, việc điều hành hoạt động của nhóm trẻ do người có trình độ chuyên môn GDMN phụ trách.

- Các địa phương tăng cường thanh, kiểm tra định kì, đặc biệt kiểm tra đột xuất hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và đình chỉ hoạt động các nhóm trẻ ĐLTT không đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Công khai vấn đề chất lượng cũng như uy tín của các nhóm trẻ ĐLTT trên loa phát thanh của phường và trong các cuộc họp của phường/tổ dân phố/thôn/bản.

- Xây dựng Chương trình GDMN/ Chương trình bổ trợ phù hợp với đặc điểm các nhóm lớp ĐLTT; tài liệu hỗ trợ GV, chủ nhóm, lớp ĐLTT thực hiện CT GDMN trong điều kiện nhóm, lớp ghép nhiều độ tuổi.

-  Mỗi địa phương cần phát huy vai trò của tổ dân khu phố, của gia đình, nhân dân khu dân cư trong việc giám sát, phát hiện các nhóm, lớp tư thục đang hoạt động trái quy định hoặc có hành vi bạo hành đối với trẻ em, không đảm bảo an toàn.

-  UBND phường/xã phân công trách nhiệm cụ thể hơn cho các ban ngành, tổ chức xã hội, tăng tính chủ động, thường xuyên tìm hiểu tình hình hoạt động của các nhóm trẻ trên địa bàn Phường/xã: Trong các cuộc giao ban tại phường, khi báo cáo về các vấn đề phụ trách, các ban ngành và tổ chức xã hội cần dành một mục báo cáo về vấn đề tình hình hoạt động của các nhóm trẻ ĐLTT trên địa bàn.

- Phường/xã đẩy mạnh tuyên truyền về quyền trẻ em, phổ biến kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục, bảo vệ an toàn trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng.

Sự ra đời và tồn tại của các nhóm lớp ĐLTT trong điều kiện hiện nay là phù hợp và cần thiết. Tuy nhiên chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các nhóm lớp này vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu cũng như mong mỏi của xã hội. Các nhóm, lớp ĐLTT cần có sự giám sát, quản lý từ đội ngũ cán bộ chuyên môn, các cấp chính quyền và cộng đồng xã hội trên tinh thần phối hợp, hỗ trợ, cùng tham gia nhằm mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non, Viện khoa học GDVN

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non, Viện khoa học GDVN

Tác giả: Mầm Non Việt